Tải Free Cơ Sở Lý Luận Chung Về Ly Hôn Làm Luận Văn,Hay

Cơ Sở Lý Luận Chung Về Ly Hôn Làm Luận Văn
Cơ Sở Lý Luận Chung Về Ly Hôn Làm Luận Văn
4.9/5 - (71 bình chọn)

📣📣📣 Tải Free !!! Tải Ngay !!! Cơ Sở Lý Luận Chung Về Ly Hôn Làm Luận Văn mình có để nút tải dưới cuối bài sau khi xem xong bài viết này các bạn có thể tải ngay nếu bạn cảm thấy nguồn tài liệu này hữu ích. Có phải bạn đang tìm cơ sở lý luận chung về ly hôn để tiến hành triển khai bài luận văn? Bạn đã tìm kiếm tài liệu trên nhiều website khác nhưng vẫn không khiến bạn hài lòng, bài viết sau đây mình sẽ chia sẻ đến cho các bạn nguồn tài liệu với những nội dung hoàn toàn hay hứa hẹn ít nhiều sẽ nhanh chóng giúp bạn có thêm nhiều thông tin để có thể làm tốt bài luận văn của mình trong thời gian tới.

Cũng như bạn đã biết nếu muốn hoàn thành một bài luận văn quả thật không phải chuyện dễ dàng vì khi làm một bài luận văn các bạn cần phải tìm kiếm và thu thập rất nhiều thông tin như là tài liệu, số liệu chẳng những thế mất rất nhiều thời gian cũng như công sức mới có thể hoàn thành được. Nếu bạn đang quá bận rộn thật sự chưa có thời gian để làm bài luận văn, hoặc thậm chí giáo viên đưa ra yêu cầu quá khó so với năng lực hiện tại của bạn… Đừng quá lo lắng, vì hiện nay bên mình đang có dịch vụ viết thuê luận văn với nhiều đề tài từ khó đến dễ, và đương nhiên nếu như bạn có nhu cầu cần làm một bài luận văn thì không thể bỏ qua dịch vụ nhận viết luận văn thạc sĩ của chúng tôi qua zalo/telegram : 0934.536.149 để được tư vấn báo giá làm bài luận văn trọn gói và hỗ trợ cho các bạn từ khi bắt đầu cho đến khi bảo vệ thành công bài luận văn.

1. Những vấn đề lý luận về ly hôn

1.1. Khái niệm chung

  • Khái niệm về gia đình: Gia đìnhlà tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau[1]. Gia đình có lịch sử từ rất sớm và đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài. Thực tế, gia đình có những ảnh hưởng và những tác động mạnh mẽ đến xã hội.

 Cơ Sở Lý Luận Chung Về Ly Hôn ngay từ thời nguyên thủy cho tới hiện nay, không phụ thuộc vào cách kiếm sống, gia đình luôn tồn tại và là nơi để đáp ứng những nhu cầu cơ bản cho các thành viên trong gia đình. Song để đưa ra được một cách xác định phù hợp với khái niệm gia đình, một số nhà nghiên cứu xã hội học đã đưa ra sự so sánh giữa gia đình loài người với cuộc sống lứa đôi của động vật, gia đình loài người luôn luôn bị ràng buộc theo các điều kiện văn hóa xã hội của đời sống gia đình ở con người. Gia đình ở loài người luôn bị ràng buộc bởi các quy định, các chuẩn mực giá trị, sự kiểm tra và sự tác động của xã hội; vì thế theo các nhà xã hội học, thuật ngữ gia đình chỉ nên dùng để nói về gia đình loài người.

Thực tế, gia đình là một khái niệm phức hợp bao gồm các yếu tố sinh học, tâm lý, văn hóa, kinh tế,… khiến cho nó không giống với bất kỳ một nhóm xã hội nào. Từ mỗi một góc độ nghiên cứu hay mỗi một khoa học khi xem xét về gia đình đều có thể đưa ra một khái niệm gia đình cụ thể, phù hợp với nội dung nghiên cứu phù hợp và chỉ có như vậy mới có cách tiếp cận phù hợp đến với gia đình.

Đối với xã hội học, gia đình thuộc về phạm trù cộng đồng xã hội. Vì vậy, có thể xem xét gia đình như một nhóm xã hội nhỏ, đồng thời như một thiết chế xã hội mà có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình xã hội hóa con người. Gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù, một nhóm xã hội nhỏ mà các thành viên của nó gắn bó với nhau bởi quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ con nuôi, bởi tính cộng đồng về sinh hoạt, trách nhiệm đạo đức với nhau nhằm đáp ứng những nhu cầu riêng của mỗi thành viên cũng như để thực hiện tính tất yếu của xã hội về tái sản xuất con người[2].

XEM THÊM : 189+ Đề Tài Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Luật

  • Khái niệm về hôn nhân:Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn[3]. Hôn nhân, một cách chung nhất có thể được xác định như một sự xếp đặt của mỗi một xã hội để điều chỉnh mối quan hệ sinh lý giữa đàn ông và phụ nữ. Nó là một hình thức xã hội luôn luôn thay đổi trong suốt quá trình phát triển của mối quan hệ giữa họ, nhờ đó xã hội xếp đặt và cho phép họ sống chung và sinh con đẻ cái với nhau, quy định quyền lợi và nghĩa vụ của họ.

Hôn nhân là sự kết hợp của các cá nhân về mặt tình cảm, xã hội, và hoặc tôn giáo một cách hợp pháp. Hôn nhân có thể là kết quả của tình yêu. Hôn nhân là một mối quan hệ cơ bản trong gia đình ở hầu hết xã hội. Về mặt xã hội, lễ cưới thường là sự kiện đánh dấu sự chính thức bắt đầu của hôn nhân. Về mặt luật pháp, đó là việc đăng ký kết hôn với cơ quan Nhà nước.

 Cơ Sở Lý Luận Chung Về Ly Hôn Làm Luận Văn hôn nhân thường là sự kết hợp giữa một người đàn ông được gọi là chồng và một người phụ nữ được gọi là vợ. Ngoài ra còn tồn tại một số biến dị của hôn nhân khác như: Hôn nhân đa thê là việc một người đàn ông có thể kết hôn với nhiều vợ cùng lúc, hôn nhân đồng tính là việc hai người cùng giới tính kết hôn, hôn nhân tạm là việc 2 người chung sống như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn, tảo hôn là việc người chưa đủ tuổi nhưng vẫn kết hôn, hôn nhân cận huyết là 2 người có họ hàng gần kết hôn với nhau… Tuy nhiên, hôn nhân 1 vợ – 1 chồng vẫn là loại hình hôn nhân cơ bản nhất, được pháp luật công nhận ở mọi quốc gia và mọi thời đại, trong khi các biến dị khác (hôn nhân đa thê, Hôn nhân tạm, hôn nhân đồng tính) thì chỉ được chấp nhận ở một số ít quốc gia trong một số giai đoạn lịch sử, vì những kiểu hôn nhân biến dị đó tạo ra tác hại lâu dài cho văn hóa, đạo đức xã hội và trẻ em[4].

Ở Việt Nam, Điều 36 Hiến pháp năm 2013 quy định “Hôn nhân là sự kết hợp đặc biệt dựa trên nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng”. Như vậy có nghĩa rằng Nhà nước Việt Nam chỉ công nhận hôn nhân giữa 1 nam và 1 nữ, các biến dị khác như hôn nhân đồng tính, hôn nhân đa thê hoặc tảo hôn đều là vi hiến, và Luật hôn nhân và gia đình không công nhận những kiểu biến dị đó[5].

  • Khái niệm về ly hôn: Ly hôn (hay ly dị) là chấm dứt quan hệ hôn nhândo Tòa án quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc của chồng hoặc cả hai vợ chồng, hủy bỏ các trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm của hôn nhân và các ràng buộc dân sự khác. Tòa án là cơ quan duy nhất có trách nhiệm ra phán quyết chấm dứt quan hệ hôn nhân của vợ chồng. Phán quyết ly hôn của Tòa án thể hiện dưới hai hình thức: bản án hoặc quyết định. Nếu hai bên vợ chồng thuận tình ly hôn thỏa thuận với nhau giải quyết được tất cả các nội dung quan hệ vợ chồng khi ly hôn thì toà án công nhận ra phán quyết dưới hình thức là quyết định. Nếu vợ chồng có mâu thuẫn, tranh chấp thì Tòa án ra phán quyết dưới dạng bản án ly hôn.

Theo pháp luật Hôn nhân gia đình hiện hành ở nước ta, khái niệm ly hôn được các nhà làm luật ghi nhận trong Điều 3 luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam. Theo đó, ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.

Pháp luật ly hôn thay đổi đáng kể trên toàn thế giới nhưng trong hầu hết các nước, nó đòi hỏi phải có phán xử của tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác theo một thủ tục pháp lý nhất định. Thủ tục pháp lý cho việc ly dị cũng có thể liên quan đến các vấn đề hỗ trợ vợ chồng, nuôi con, hỗ trợ trẻ em, phân phối tài sản và phân chia các khoản nợ. Trong trường hợp một vợ một chồng là pháp luật, ly hôn cho phép mỗi bên có quyền kết hôn tiếp.

1.2. Đặc trưng của ly hôn

Trong ly hôn không có yếu tố lỗi. Đơn giản hôn nhân không thể được duy trì chỉ bởi vì không thể đạt được mục đích của nó. Trong quan niệm của người làm luật Việt Nam hiện đại, hôn nhân đích thực là điều kiện vun đắp tình yêu giữa một người đàn ông và một người phụ nữ. Nếu, sau một thời gian chung sống, tình yêu không những không được vun đắp mà còn bị mài mòn và sự mài mòn không thể cứu chữa (Nghĩa là “tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài”), thì cuộc hôn nhân coi như thất bại. Tuy nhiên, sự thất bại của hôn nhân không nhất thiết dẫn đến sự tan rã của gia đình, bởi trong quan niệm của tục lệ, chất liệu xây dựng và củng cố gia đình thực ra không phải là tình yêu mà là “nghĩa”. Chính từ hôn nhân mà gia đình được tạo ra và sống trong đó, các thành viên của gia đình được nuôi dưỡng, chăm sóc, che chở, bảo vệ, cũng như có điều kiện phát triển trí tuệ và nhân cách, xây dựng và củng cố sự nghiệp của mình. Họ cùng hưởng hạnh phúc và cùng chia sẻ bất hạnh[6]. “Nghĩa” được hình thành và lớn lên từ đó. Nếu giữa vợ và chồng có tình yêu, thì tình yêu đó được lồng trong “nghĩa” (và chính “nghĩa” nuôi dưỡng tình yêu); nếu tình yêu không tồn tại, “nghĩa” vẫn có thể tự mình phát triển. Suy cho cùng, “nghĩa” là động lực thúc đẩy vợ và chồng nỗ lực đạt đến mục đích của hôn nhân – xây dựng, duy trì và phát triển gia đình. Chính sự suy yếu của “nghĩa” khiến cho hôn nhân khó có thể vươn tới mục đích của nó. Quá trình suy yếu không thể cứu chữa của “nghĩa” luôn diễn ra đồng thời với quá trình tan rã của gia đình. Có trường hợp sự tan rã chưa kịp đi vào giai đoạn quyết định, thì vợ hoặc chồng chết: người còn sống được tự do. Có trường hợp sự tan rã đi vào giai đoạn quyết định ngay trong lúc cả vợ và chồng đều còn sống: vợ và chồng quyết định chấm dứt cuộc sống chung bằng con đường ly hôn[7].

 Cơ Sở Lý Luận Chung Về Ly Hôn Làm Luận Văn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con. Thực tiễn ghi nhận rằng trong phần lớn trường hợp, người sẽ phải đương đầu với nhiều khó khăn về vật chất và tinh thần sau khi ly hôn là người vợ và các con sinh ra từ hôn nhân, nhất là các con chưa thành niên hoặc tật nguyền và không có khả năng lao động. Do đó, việc giải quyết yêu cầu ly hôn và các vấn đề phát sinh sau khi ly hôn phải được thực hiện dựa trên tư tưởng chủ đạo theo đó, quyền và lợi ích chính đáng của vợ và con được ưu tiên bảo vệ. Luật cho phép Toà án chủ động can thiệp trong trường hợp thuận tình ly hôn, một khi các thoả thuận giữa vợ và chồng không thể hiện sự bảo đảm đúng mức các quyền và lợi ích đó. Cả trong trường hợp ly hôn theo yêu cầu của một bên, thẩm phán cũng có thể chủ động can thiệp vào việc giải quyết vấn đề trông giữ con (trong khi chỉ có thể can thiệp vào việc giải quyết các vấn đề về hệ quả tài sản của việc ly hôn, nếu có yêu cầu của một trong các bên hoặc của cả hai bên). Khi can thiệp, thẩm phán phải đứng vững trên nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con để quyết định[8].

1.3. Ý nghĩa của việc ly hôn

Ly hôn thực chất là mặt trái của quan hệ hôn nhân cũng là mặt không thể thiếu khi quan hệ hôn nhân đó thực sự tan vỡ; ly hôn chỉ là giải pháp sau cùng khi không còn khả năng hàn gắn lại cuộc sống vợ chồng – mục đích hôn nhân không đạt được. Trước đây, do ảnh hưởng của tư tưởng lạc hậu việc ly hôn được xem là bất bình thường, bị xã hội lên án và bị hạn chế tối đa đặc biệt là đối với người phụ nữ, việc chủ động xin ly hôn là điều khó chấp nhận được. Tuy nhiên, trong xã hội ngày nay cách nhìn nhận về ly hôn đã thay đổi, có phần thoáng hơn; ly hôn được xem là một hiện tượng bình thường của xã hội hiện đại. Tức là khi xã hội thừa nhận quyền tự do kết hôn thì cũng đương nhiên cho phép tự do trong ly hôn. Ly hôn và ý nghĩa ly hôn trong cuộc sống của người trong cuộc.

 Cơ Sở Lý Luận Chung Về Ly Hôn Làm Luận Văn ly hôn còn hướng đến bảo vệ các quyền lợi của phụ nữ và trẻ em tạo sự công bằng cho xã hội. Vì phụ nữ và trẻ em là những đối tượng dễ bị tổn thương nhất khi ly hôn xảy ra, gia đình tan vỡ. Điều này được chứng minh bằng việc luật quy định hạn chế quyền xin ly hôn của người chồng trong một số trường hợp nhất định như Điều 51 khoản 3 quy định: “trong trường hợp vợ có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì chồng không có quyền yêu cầu xin ly hôn”.Quy định ly hôn đã tạo nền tảng vững chắc cho việc giải quyết các hậu quả pháp lý phát sinh sau khi quan hệ hôn nhân chấm dứt. Đó là các quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản, quan hệ cấp dưỡng giữa vợ, chồng và quan hệ cấp dưỡng nuôi con…

Ly hôn là một chế định quan trọng trong Luật HN&GĐ 2014, cùng với kết hôn, ly hôn tạo nên hai mặt hoàn thiện của hôn nhân. Dù là mặt trái của hôn nhân, nhưng ly hôn là điều cần thiết nếu hôn nhân không thể duy trì và bảo đảm trách nhiệm là tế bào cho xã hội. Chính vì thế, chế độ ly hôn có ý nghĩa to lớn trong hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung, pháp luật HN&GĐ nói riêng và thực tiễn cuộc sống.

2. Quy định pháp luật về ly hôn 

2.1. Căn cứ ly hôn

Căn cứ ly hôn là những tình tiết (điều kiện) được quy định trong pháp luật và chỉ khi có những tình tiết (điều kiện) đó, Tòa án mới được xử cho ly hôn.

Việc giải quyết ly hôn cần dựa trên các điều kiện nhất định[9]. Theo quy định thì căn cứ để Tòa xem xét cho ly hôn là:

Thứ nhất, Khi xem xét yêu cầu ly hôn, Toà án xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì Toà án quyết định cho ly hôn.

* Được coi là tình trạng của vợ chồng trầm trọng khi:

– Vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì sống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

– Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau, như thường xuyên đánh đập, hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

– Vợ chồng không chung thuỷ với nhau như có quan hệ ngoại tình, đã được người vợ hoặc người chồng hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình…

* Cơ sở nhận định đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được xác định căn cứ vào tình trạng hiện tại của vợ chồng đã đến mức trầm trọng như đã hướng dẫn ở trên. Nếu thực tế cho thấy đã được nhắc nhở, hoà giải nhiều lần, nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình hoặc vẫn tiếp tục sống ly thân, bỏ mặc nhau hoặc vẫn tiếp tục có hành vi ngược đãi hành hạ, xúc phạm nhau, thì có căn cứ để nhận định rằng đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được.

*  Cơ Sở Lý Luận Chung Về Ly Hôn mục đích của hôn nhân không đạt được là không có tình nghĩa vợ chồng; không bình đẳng về nghĩa vụ và quyền giữa vợ, chồng; không tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ, chồng; không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ, chồng; không giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển mọi mặt.

Thứ hai, Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Toà án tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Toà án giải quyết cho ly hôn.

* Vợ hoặc chồng của người bị Toà án tuyên bố mất tích. Thực tiễn cho thấy có thể xảy ra hai trường hợp như sau:

  • Người vợ hoặc người chồng đồng thời yêu cầu Toà án tuyên bố người chồng hoặc người vợ của mình mất tích và yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn. Trong trường hợp này nếu Toà án tuyên bố người đó mất tích thì giải quyết cho ly hôn; nếu Toà án thấy chưa đủ điều kiện tuyên bố người đó mất tích thì bác các yêu cầu của người vợ hoặc người chồng.
  • Người vợ hoặc người chồng đã bị Toà án tuyên bố mất tích theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan. Sau khi bản án của Toà án tuyên bố người vợ hoặc người chồng mất tích đã có hiệu lực pháp luật thì người chồng hoặc người vợ của người đó có yêu cầu xin ly hôn với người đó. Trong trường hợp này Toà án giải quyết cho ly hôn[10].

2.2. Trình tự, thủ tục ly hôn

Khi tình trạng quan hệ hôn nhân của vợ chồng trầm trọng, không thể sống chung với nhau, mục đích của cuộc hôn nhân không đạt được thì về nguyên tắc, vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn. Trừ trường hợp vợ đang mang thai hoặc đang nuôi con dưới mười hai tháng tuổi thì người chồng không có quyền yêu cầu xin ly hôn, người chồng không có quyền yêu cầu ly hôn mà quyền yêu cầu thuộc về người vợ, quy định này nhằm để bảo vệ người mẹ và trẻ em trong chế định ly hôn.

 Cơ Sở Lý Luận Chung Về Ly Hôn Làm Luận Văn việc ly hôn có thể là thuận tình cả hai bên hoặc do một bên muốn ly hôn. Nên có thể chia ra hai loại ly hôn là thuận tình ly hôn và đơn phương ly hôn. Thuận tình ly hôn là việc vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con. Còn đơn phương ly hôn là việc yêu cầu giải quyết cho ly hôn theo yêu cầu của một bên nếu nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

  • Ly hôn theo yêu cầu của một bên:

Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì khi vợ hoặc chồng muốn ly hôn để chấm dứt quan hệ hôn nhân nhưng người kia không đồng ý thì có thể làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn, sau khi hòa giải không thành thì Tòa án sẽ quyết định giải quyết theo thủ tục chung của một vụ án dân sự, nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì Tòa giải quyết cho ly hôn[11].

Căn cứ Điều 51 luật hôn nhân gia đình 2014 thì vợ, chồng hoặc cả hai người đều có quyền yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn, mà không thể chuyển giao hay ủy quyền cho bất kỳ ai. Ly hôn như sau:

Thứ nhất, Nộp đơn yêu cầu ly hôn và thụ lý yêu cầu.

Người có quyền nộp đơn: Vợ/chồng hoặc cả hai hoặc cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ .

 Cơ Sở Lý Luận Chung Về Ly Hôn Làm Luận Văn nộp hồ sơ khởi kiện về việc xin ly hôn tại Tòa án quận/huyện nơi cư trú, làm việc của vợ hoặc chồng; Hồ sơ gồm: Đơn xin ly hôn đơn phương, chứng minh nhân dân và sổ hộ khẩu của vợ và chồng; giấy đăng ký kết hôn (bản chính); giấy khai sinh của các con; giấy tờ về tài sản nếu có yêu cầu Tòa án phân chia.

Sau khi nhận đơn khởi kiện cùng hồ sơ hợp lệ Tòa án trong thời hạn 05 ngày làm việc Tòa án kiểm tra đơn và ra thông báo nộp tiền tạm ứng án phí cho người nộp đơn nếu xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án. Vợ/chồng là nguyên đơn nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm tại Chi cục thi hành án quận/huyện và nộp lại biên lai tiền tạm ứng án phí cho Tòa án trong thời hạn 07 ngày.

Thứ hai, Chuẩn bị xét xử.

Căn cứ khoản 1 Điều 203 BLTTDS thì vụ án ly hôn có thời hạn chuẩn bị xét xử là 04 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án. Trong thời gian này việc quan trọng và tiên quyết là tiến hành hòa giải để các bên có thể trao đổi, giải quyết mâu thuẫn để từ đó hàn gắn, gắn kết vợ chồng và đoàn tụ, đồng thời giải thích về quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng, giữa cha, mẹ và con, giữa các thành viên khác trong gia đình, về trách nhiệm cấp dưỡng và các vấn đề khác liên quan đến hôn nhân và gia đình. Để hai bên hiểu rõ về hậu quả sau khi ly hôn và cũng để vợ, chồng hiểu được lỗi của mình từ đó có thể rút đơn.

Trường hợp hòa giải đoàn tụ thành thì Tòa án lập biên bản hòa giải thành và khi hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó thì Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải hoặc một Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công phải ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.

Trường hợp hòa giải đoàn tụ không thành, thì Tòa quyết định đưa vụ án ra xét xử, phiên tòa sẽ được tổ chức trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Thứ ba, phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án ly hôn và quyết định ly hôn.

 Cơ Sở Lý Luận Chung Về Ly Hôn Làm Luận Văn trình tự thủ tục tiến hành phiên tòa được thực hiện như thủ tục chung của vụ án dân sự, chỉ lưu ý các vấn đề sau: Trong phần bắt đầu phiên tòa, Chủ tọa phiên tòa hỏi các đương sự có thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án hay không . Nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và thỏa thuận của họ là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội thì Hội đồng xét xử ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc giải quyết vụ án. Lúc này các đương sự có thể thỏa thuận đoàn tụ hoặc không đoàn tj mà vẫn ly hôn nhưng đã thõa thuận được tất cả các vấn đề về hôn nhân, tài sản, con chung một cách hợp pháp thì Tòa công nhận sự thỏa thuận đó, mà không cần xét xử nữa; nếu các đương sự không thỏa thuận được thì phiên tòa tiếp tục được tiến hành theo trình tự luật định.

Căn cứ theo khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình thì Tòa chỉ ra quyết định ly hôn khi có yêu cầu ly hôn của một bên khi có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Theo đó: Tình trạng quan hệ hôn nhân của vợ chồng trầm trọng là khi vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì sống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, hoà giải nhiều lần; Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau, như thường xuyên đánh đập, hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhắc nhở, hoà giải nhiều lần; Vợ chồng không chung thuỷ với nhau như có quan hệ ngoại tình, đã được người vợ hoặc người chồng hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình; Để có cơ sở nhận định đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được, thì phải căn cứ vào tình trạng hiện tại của vợ chồng đã đến mức trầm trọng như nêu trên, nếu thực tế cho thấy đã được nhắc nhở, hoà giải nhiều lần, nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình hoặc vẫn tiếp tục sống ly thân, bỏ mặc nhau hoặc vẫn tiếp tục có hành vi ngược đãi hành hạ, xúc phạm nhau, thì có căn cứ để nhận định rằng đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được. Mục đích của hôn nhân không đạt được là không có tình nghĩa vợ chồng; không bình đẳng về nghĩa vụ và quyền giữa vợ, chồng; không tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ, chồng; Vấn đề nuôi con sau ly hôn nếu các bên không thỏa thuận được thì Tòa sẽ căn cứ căn cứ vào việc vợ hay chồng đáp ứng được điều kiện để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con. Về nguyên tắc, con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con[12].

  • Thuận tình ly hôn:

Căn cứ Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì ly hôn thuận tình là trường hợp giải quyết ly hôn theo yêu cầu của cả hai vợ chồng; trong đó vợ, chồng thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết cả ba vấn đề: Quan hệ hôn nhân, quan hệ tài sản và quan hệ nuôi con, trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn[13]. Thủ tục thuận tình ly hôn như sau:

Thứ nhất, nộp đơn và thụ lý việc ly hôn.

Vợ/chồng nộp đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn hoặc Đơn xin ly hôn có ký tên hoặc điểm chỉ vào đơn yêu cầu của cả hai bên.

 Cơ Sở Lý Luận Chung Về Ly Hôn sau khi nhận được Đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn hoặc Đơn xin ly hôn, Tòa án phải xem xét những tài liệu, chứng cứ cần thiết, nếu xét thấy thuộc thẩm quyền của mình thì Tòa án sẽ thông báo cho đương sự biết để đương sự nộp tiền tạm ứng án phí. Sau khi nộp tiền tạm ứng án phí, đương sự nộp lại biên lai thu tiền tạm ứng án phí cho Tòa án. Tòa án thụ lý việc dân sự kể từ khi nhận được biên lai này.

Thứ hai, chuẩn bị xét đơn yêu cầu giải quyết việc ly hôn.

Căn cứ Điều 366 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (BLTTDS) thì trước khi ra quyết định có mở phiên họp giải quyết việc dân sự, Tòa án phải xem xét các tài liệu, chứng cứ mà đương sự cung cấp, nếu thiếu thì có thể yêu cầu đương sự bổ sung tài liệu, chứng cứ hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ; triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định, định giá tài sản nếu đương sự có yêu cầu hoặc khi xét thấy cần thiết.

Và mặc dù pháp luật tố tụng dân sự không quy định rõ về việc hòa giải đối với yêu cầu giải quyết việc dân sự công nhận thuận tình ly hôn, nhưng theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình thì khi giải quyết ly hôn đồng thuận, tòa án vẫn phải tiến hành hòa giải đoàn tụ.

Trường hợp hòa giải đoàn tụ thành thì Tòa án đình chỉ giải quyết việc dân sự về công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn.

Trường hợp hòa giải đoàn tụ không thành nhưng các đương sự không thỏa thuận được hoặc có thõa thuận nhưng không đảm bảo quyền cho vợ con về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con thì thì Tòa án đình chỉ giải quyết việc dân sự về công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn và thụ lý vụ án để giải quyết.

 Cơ Sở Lý Luận Chung Về Ly Hôn Làm Luận Văn nếu hòa giải đoàn tụ không thành,các đương sự đều đồng ý ly hôn và thỏa thuận được các vấn đề về tài sản, con chung thì Tòa án lập biên bản về việc đồng thuận ly hôn và hòa giải không thành. Và ra quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự trong thời hạn là 01 tháng, kể từ ngày Tòa án thụ lý đơn yêu cầu.

Thứ ba, Phiên họp công nhận thuận tình ly hôn.

Theo quy định tại Điều 367 BLTTDS thì để đảm bảo cho sự tuân thủ đúng đắn quy định pháp luật thì Kiểm sát viên phải tham gia phiên họp nhưng không bắt buộc vì trường hợp Kiểm sát viên vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành phiên họp. Thành phần không thể thiếu đó là người yêu cầu hoặc người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ, bởi nếu vắng mặt mà không đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt họ thì Tòa án sẽ hoãn phiên Tòa. Trường hợp người yêu cầu đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì bị coi là từ bỏ yêu cầu và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự

Căn cứ vào kết quả hòa giải không thành Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn cua vợ, chồng. Khi quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật thì quan hệ hôn nhân chấm dứt. Kể từ thời điểm này, người vợ, người chồng đã ly hôn có quyền kết hôn với người khác mà không chịu bất kỳ sự ràng buộc nào từ phía bên kia. Sau khi ly hôn, các quyền và nghĩa vụ về nhân thân giữa vợ và chồng sẽ đương nhiên chấm dứt. Nghĩa là các quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ chồng phát sinh từ khi kết hôn và gắn bó trong suốt thời kỳ hôn nhân như: nghĩa vụ yêu thương quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, nghĩa vụ chung thủy giữa vợ chồng … sẽ đương nhiên mất đi. Về nguyên tắc chia tài sản vợ chồng khi ly hôn: pháp luật quy định, việc chia tài sản vợ chồng khi ly hôn trước hết do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. Nguyên tắc chung đó là, tài sản riêng của bên nào vẫn thuộc quyền sở hữu của bên đó, tài sản chung sẽ được chia đôi nhưng có xem xét đến công sức đóng góp và hoàn cảnh của mỗi bên cũng như việc đảm bảo quyền lợi của người vợ và các con. Khi ly hôn việc xác định người trực tiếp nuôi con, và quyền thăm nom, nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đề phải trên cơ sở đảm bảo quyền lợi cho con, đảm bảo điều kiện tốt nhất cho trẻ. Trường hợp cần thiết để đảm bảo quyền lợi cho trẻ, Tòa án có thể ra quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng trên cơ sở yêu cầu của một hoặc cả hai bên[14].

2.3. Hậu quả pháp lý của việc ly hôn

Hậu quả pháp lý của việc ly hôn là kết quả tất yếu sẽ dẫn đến mà vợ chồng phải gánh chịu khi quan hệ hôn nhân chấm dứt.

·        Quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng:

Kể từ ngày bản án ly hôn hoặc quyết định công nhận thuận tình ly hôn của Tòa án có hiệu lực, các bên chấm dứt quan hệ vợ chồng trước pháp luật. Giữa vợ và chồng chấm dứt các quyền và nghĩa vụ về nhân thân theo Luật hôn nhân và gia đình. Mỗi bên vợ, chồng có quyền kết hôn với người khác. Trong trường hợp một bên có khó khăn, túng thiếu, có yêu cầu cấp dưỡng mà có lý do chính đáng thì bên kia phải cấp dưỡng theo khả năng.

·        Quan hệ đối với con chung:

Vợ chồng ly hôn vẫn có quyền và nghĩa vụ đối với con chung. Nếu con chung chưa thành niên hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình thì vợ chồng phải thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con và quyền và nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi con, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

 Cơ Sở Lý Luận Chung Về Ly Hôn Làm Luận Văn việc giao con cho một bên trực tiếp nuôi phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con. Nếu con từ đủ 7 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con. Về nguyên tắc con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc các bên có thỏa thuận khác.

Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con và có quyền được thăm nom con, nhưng nếu lạm dụng quyền thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của họ. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

·        Giải quyết tài sản riêng của vợ, chồng:

Khi vợ chồng ly hôn, tài sản riêng của ai vẫn thuộc quyền sở hữu của người đó. Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng và tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác[15].

Nếu không đủ căn cứ để chứng minh tài sản nào đó là tài sản riêng của vợ hoặc chồng thì tài sản đó được xác định là tài sản chung của vợ chồng. Tài sản riêng của vợ hoặc chồng nhưng vợ chồng đã thỏa thuận nhập vào khối tài sản chung hoặc đã sử dụng để đáp ứng nhu cầu của gia đình thì khi vợ chồng ly hôn không được đòi lại[16].

Trong quá trình triển khai Cơ Sở Lý Luận Về Ly Hôn Làm Luận Văn với những nội dung mình đã triển khai như là những vấn đề lý luận về ly hôn,quy định pháp luật về ly hôn… Ngoài việc chia sẻ nguồn tài liệu này thì trước đây mình có viết một bài hơn 100 đề tài luận văn thạc sĩ luật dân sự với những đề tài được chọn chọn lọc đảm bảo hay và chất lượng các bạn có thể xem và tham khảo tại đây. Trở lại với nguồn tài liệu bạn cần làm hoàn thiện một luận văn thì mình sẽ tiếp tục tiến hành triển khai phần cuối của bài là sơ lược về sự hình thành và phát triển của pháp luật việt nam về ly hôn để bạn bổ sung thêm được nhiều thông tin hữu ích và đa dạng.

Cơ Sở Lý Luận Chung Về Ly Hôn Làm Luận Văn
Cơ Sở Lý Luận Chung Về Ly Hôn Làm Luận Văn

3. Sơ lược về sự hình thành và phát triển của pháp luật Việt Nam về ly hôn

3.1. Luật cổ và tục lệ cổ

Ly hôn là một biện pháp chấm dứt hôn nhân được thừa nhận từ rất sớm trong luật Việt Nam. Tại Bộ Quốc triều hình luật Điều 308 có ghi: “Phàm chồng đã bỏ lửng vợ 5 tháng mà không đi lại (vợ được trình với quan sở tại và xã quan làm chứng), thì mất vợ. Nếu vợ đã có con, thì cho hạn 1 năm. Vì việc quan phải đi xa, thì không theo luật này. Nếu đã bỏ vợ, mà lại ngăn cản người khác lấy vợ mình, thì phải tội biếm”. Thực ra, điều luật được viết không tốt lắm, nhưng thực tiễn ly hôn vẫn được ghi nhận như một biện pháp chế tài dành cho người chồng vi phạm nghĩa vụ đối với vợ và gia đình. Ngoài ra, người làm luật cũng thừa nhận việc ly hôn do sự thuận tình của vợ và chồng (Vũ Văn Mẫu, Dân luật Việt Nam lược khảo, Sài gòn, 1962, tr. 559 và 560) bằng cách cùng nhau thảo một văn thư, vợ chồng bày tỏ ý chí về việc chấm dứt cuộc sống chung và việc ly hôn có hiệu lực sau khi người chồng ký và người vợ điểm chỉ vào giấy đó mà không cần có sự can thiệp của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

 Cơ Sở Lý Luận Chung Về Ly Hôn Làm Luận Văn việc ly hôn mang tính chất chế tài đối với người chồng cũng được ghi nhận tại Bộ luật Gia Long Điều 108, trong các trường hợp được dự kiến tương tự như luật thời Lê. Điều 108 Bộ luật Gia Long còn cho phép người vợ được chấm dứt quan hệ hôn nhân để kết hôn với người khác trong trường hợp người chồng mất tích do loạn lạc. Thực ra, Điều 108 nói rằng nếu chồng bỏ trốn và biệt tăm mà trong thời gian ba năm, vợ cũng bỏ trốn mà không nộp đơn cho Toà án hoặc tự ý cải giá, thì vợ sẽ bị phạt. Chính trong các giải thích chính thức dưới điều luật đó (lấy từ Bộ luật Nhà Thanh) mà quyền xin ly hôn của người vợ được thừa nhận: xem Philastre, Code annamite, tome 1, Paris Leroux, 1909, tr. 542 và 543. Cần lưu ý rằng, người vợ trong trường hợp này xin ly hôn để kết hôn với người khác. Ta không biết liệu người vợ có thể xin ly hôn dù không kết hôn với ai khác). Việc ly hôn thuận tình cũng được cho phép trong trường hợp vợ chồng không hợp tính tình. Tuy nhiên, do chế độ gia trưởng dưới thời Nguyễn được xây dựng theo khuôn mẫu Trung Quốc, vai trò của người đàn ông hoàn toàn áp đảo vai trò của người đàn bà, cả trong quan hệ gia đình và quan hệ xã hội, ly hôn do sự thuận tình, một giao dịch đòi hỏi vợ và chồng đều có quyền tự do bày tỏ hoặc không bày tỏ ý chí, trở thành một chế định không thích hợp với nền nếp tư duy pháp lý đặt cơ sở cho hệ thống pháp luật gia đình thời Nguyễn. Nói rõ hơn, có thể tin rằng trong hệ thống pháp luật gia đình dựa trên chế độ phụ quyền, hầu hết các trường hợp thuận tình ly hôn về thực chất là các trường hợp ly hôn theo sáng kiến của người chồng, người vợ chỉ chấp nhận hoặc cam chịu[17].

3.2. Luật cận đại (Thời kỳ Pháp thuộc)

Trong thời kỳ thuộc địa, chế định ly hôn được xây dựng dựa theo khuôn mẫu Pháp đồng thời vẫn bảo vệ các quyền và lợi ích của người chồng (Dân Luật giản yếu thiên thứ VI, BLDS Bắc Điều 116 đến 150; BLDS Trung Điều 115 đến 147). Việc ly hôn do Toà án quyết định trong những trường hợp được luật dự kiến. Cần lưu ý rằng dù chịu ảnh hưởng luật của Pháp cùng thời kỳ, luật Việt Nam lại thừa nhận khả năng ly hôn do sự thuận tình của vợ và chồng, điều mà luật của Pháp cùng thời kỳ không thừa nhận. Ngoài ra, Dân luật giản yếu còn ghi nhận quyền xin ly hôn trong trường hợp vợ hoặc chồng mất tích, như trong Bộ luật Gia Long.

 Cơ Sở Lý Luận Chung Về Ly Hôn Làm Luận Văn quyền xin ly hôn được thừa nhận cho cả vợ và chồng; nhưng người vợ không có quyền xin ly hôn vì lý do người chồng ngoại tình, trong khi người chồng lại có quyền xin ly hôn với lý do người vợ ngoại tình.

Người vợ ly hôn, khi ra khỏi nhà chồng, được phép mang đi quần áo, tư trang, đồ dùng cá nhân. Việc phân chia các tài sản có giá trị lớn được thực hiện theo các thoả thuận trước trong hôn ước; nếu không có hôn ước, thì theo các quy định của pháp luật. Các giải pháp của luật về phân chia tài sản giữa vợ chồng sau khi ly hôn được xây dựng tùy theo gia đình có hay không có con và người vợ có hay không có ngoại tình (Con trong gia đình là các con của chồng, bất kể con đó do người vợ chính hoặc những người vợ hai sinh ra. Trái lại, hình như người làm luật thời thuộc địa không tính đến con riêng của người vợ khi xây dựng các quy định về phân chia tài sản giữa vợ chồng khi ly hôn: nếu vợ có con riêng mà chồng không có con, thì việc phân chia tài sản được thực hiện theo các quy định áp dụng cho trường hợp không có con. Về việc phân chia tài sản giữa vợ chồng khi ly hôn trong các BLDS Bắc, Trung, có thể xem, ví dụ: Vũ Văn Mẫu, Dân luật Việt Nam lược khảo, q.1, đd, tr. 601 đến 604.). Việc trông giữ con được ưu tiên giao cho người cha, trừ trường hợp việc giao con cho người mẹ hoặc một người thứ ba tỏ ra tốt hơn cho lợi ích của con. Con đủ 15 tuổi có thể được giao cho cha hoặc mẹ theo nguyện vọng của mình[18].

3.3. Luật hiện đại ( Giai đoạn từ năm 1945 đến nay)

Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, ly hôn được xem như một trong những biện pháp giải phóng phụ nữ khỏi sự kềm hãm của chế độ hôn nhân và gia đình phong kiến. Văn bản đầu tiên có những quy tắc pháp lý mới về ly hôn là Sắc lệnh số 159-SL ngày 17/11/1950, một văn bản rất ngắn, gọn và không có đầy đủ các quy tắc cần thiết, nhưng thể hiện được chủ trương của người làm luật xoá bỏ hệ thống pháp lý về ly hôn dựa trên quan niệm bất bình đẳng giữa nam và nữ (Sắc lệnh thừa nhận khả năng ly hôn do lỗi, do một bên mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo, thậm chí do không hợp tính tình (Điều 2), cũng như do có sự thuận tình giữa vợ và chồng về việc chấm dứt cuộc sống chung (Điều 3). Nói chung, các trường hợp ly hôn trong Sắc lệnh được dự kiến trên cơ sở tham khảo ). Đến năm 1959, người làm luật bắt đầu xây dựng chế độ ly hôn mới dựa trên tư tưởng chủ đạo theo đó, việc ly hôn được cho phép một khi “tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” (Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 Điều 26). Trong chế độ ly hôn mới đó, các trường hợp ly hôn được phân loại tùy theo yêu cầu ly hôn xuất phát từ ý chí của cả vợ và chồng hay của một trong hai người, chứ không căn cứ vào tính chất, đặc điểm của các sự kiện được coi là nguyên nhân của sự tan vỡ quan hệ vợ chồng, như trước.

Trong thời kỳ đất nước chia đôi, người làm luật miền Nam có lúc cấm ly hôn vì lý do tôn giáo (Luật gia đình năm 1959 Điều 55); nhưng quy định cấm này có tuổi thọ không dài lắm. Từ năm 1964 cho đến khi hệ thống luật của chế độ Sài Gòn bị huỷ bỏ, việc ly hôn ở miền Nam được chi phối bởi các quy tắc được xây dựng từ sự pha trộn giữa luật thời kỳ thuộc địa và luật của Pháp, nghĩa là vẫn đặc biệt chú trọng việc bảo vệ các quyền lợi của người chồng.

Sau khi đất nước thống nhất, pháp luật về ly hôn được tiếp tục hoàn thiện trên cơ sở quan niệm ly hôn được xây dựng trong Luật hôn nhân và gia đình năm 1959. Lúc đầu, chế định ly hôn được phát triển dựa trên tư tưởng giải phóng phụ nữ; dần dần, việc quan tâm hoàn thiện chế định này được thôi thúc nhiều hơn bởi yêu cầu bảo đảm sự phát triển lành mạnh của con trong môi trường gia đình không hạnh phúc và đổ vỡ do những mâu thuẫn không thể điều hoà giữa cha và mẹ. Yêu cầu đó được khẳng định rõ nét trong Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 và được củng cố trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; luôn không ngừng đổi mới, hướng tới đảm bảo quyền lợi cho người dân nhất Luật Hôn nhân và gia đình tiếp tục được củng cố bằng việc ban hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 sau gần 14 năm thực hiện, được Quốc hội khóa XIII thông qua tại kỳ họp thứ 7 và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2015, trên cơ sở kế thừa, tiếp thu một số quy định phù hợp của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đã sửa đổi, bổ sung một số quy định về chế định ly hôn, trong đó có quy định về căn cứ ly hôn. Sự thay đổi này góp phần hạn chế những bất cập, vướng mắc tồn tại thời gian qua trong quá trình áp dụng[19].

Một cách tổng quát, ly hôn trong luật Việt Nam hiện đại được ghi nhận như một biện pháp bảo đảm tự do cá nhân (của vợ và của chồng) trong quan hệ gia đình, đồng thời bảo đảm sự dung hoà giữa các lợi ích trở nên trái ngược do sự quay lưng của vợ chồng đối với nhau, trong đó có cả lợi ích của con cái sinh ra từ cuộc hôn nhân giữa các đương sự.

Trên đây là toàn bộ Cơ Sở Lý Luận Chung Về Ly Hôn Làm Luận Văn với những nội dung đã được mình chọn lọc, liệt kê và đồng thời đã gửi gấm cho các bạn cùng xem và theo dõi. Chúc các bạn xem được bài viết này sẽ bổ sung cho mình thật nhiều kiến thức đa dạng và phong phú để hoàn thành tốt bài luận văn của mình trong thời gian sớm nhất. Chân thành cảm ơn tất cả các bạn đã xem bài viết này của mình, cam kết những nội dung trên đây hoàn toàn đủ yếu tố để các bạn có thể yên tâm khi tham khảo nguồn tài liệu này. Ngoài ra, nếu như nguồn tài liệu trên đây chưa đủ để đáp ứng nhu cầu bạn cần thì hãy tìm đến dịch vụ làm thuê luận văn thạc sĩ qua zalo/telegram : 0934.536.149 để được chúng tôi tư vấn và hỗ trợ báo giá làm bài luận văn và hỗ trợ cho các bạn từ A đến Z cho nên bạn không cần phải lăng tăng nữa nhé.

DOWNLOAD MIỄN PHÍ

[1] Khoản 2, điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014

[2] https://

[3] Khoản 1, điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014

[4] https://vi.

[5] Khoản 2, điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình 2014

[6] Nguyễn Thị Hạnh (2012), “Chia tài sản chung của vợ chồng theo pháp luật Việt Nam, thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện”, Luận văn thạc sĩ, Khoa Luật, Học viện khoa học xã hội.

[7] https://www.honviet.com.vn/nghien-cuu-ve-nguyen-nhan-ly-hon-o-viet-nam-146.html

[8] https://voer.edu.vn/m/khai-niem-chung-ve-ly-hon/7926684e

[9] http://luatviet.co/toa-an-chap-nhan-ly-do-nao-de-giai-quyet-ly-hon/n20161028074539677.html

[10] Nguyễn Thị Kim Oanh (2015), “Căn cứ ly hôn theo quy định pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam hiện hành”, Luận án tiến sĩ Luật học, Tp.Hồ Chí Minh.

[11] https://chuyentuvanluat.com/hon-nhan-gia-dinh/quy-dinh-phap-luat-ve-ly-hon

[12] Nguyễn Thanh Mai (2012), “Cơ sở lý luận và thực tiễn điều chỉnh quan hệ tài sản của vợ chồng theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000”, Luận văn thạc sĩ, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội.

[13] https://viettinlaw.vn/ly-hon-thuan-tinh-va-don-phuong-khac-nhau-nhu-the-nao/

[14] Nguyễn Thị Lan (2017), “Chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân Hà Nội”, Luận văn thạc sĩ,  Khoa Luật,  Học viện khoa học xã hội.

[15] Tô Thị Bích Trâm (2013), “Pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định” Luận văn thạc sĩ, Khoa Luật, Học viện khoa học xã hội.

[16] https://diendanphapluat.vn/hau-qua-phap-ly-cua-viec-ly-hon/

[17] [17] Nguyễn Thị Thơm (2015), “Căn cứ ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014”, Luận văn thạc sĩ, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội.

[18] Nguyễn Ngọc Điện (2004), “Bình luận khoa học Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam”, Nxb Trẻ, tp Hồ Chí Minh.

[19] Nguyễn Thị Thơm (2015), “Căn cứ ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014”, Luận văn thạc sĩ, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội.