Cơ Sở Lý Luận Về Tội Cố Ý Gây Thương Tích Làm Luận Văn

Cơ Sở Lý Luận Về Tội Cố Ý Gây Thương Tích Làm Luận Văn
Cơ Sở Lý Luận Về Tội Cố Ý Gây Thương Tích Làm Luận Văn
Rate this post

📢📢📢 Download Free!!! Tải Free !!! ngay bây giờ đây mình sẽ giới thiệu Cơ Sở Lý Luận Về Tội Cố Ý Gây Thương Tích Làm Luận Văn là một trong những nguồn tài liệu vô cùng hữu ích mà mình sẽ giới thiệu đến cho các bạn học viên cùng xem và tham khảo nhé. Nguồn tài liệu mình đã tiến hành triển khai nội dung như là cố ý gây thương tích là gì, các yếu tố của tội phạm, quy định của pháp luật về tội cố ý gây thương tích theo quy định của bộ luật hình sự… Hy vọng nguồn tài liệu này sẽ nhanh chóng giúp cho các bạn hoàn thiện bài luận văn của mình.

Ngoài việc chia sẻ nguồn tài liệu hữu ích này thì hiện tại bên mình có nhận viết thuê luận văn thạc sĩ với đa đạng đề tài phong phú và các ngành nghề phổ biến khác nhau. Nếu như các bạn học viên muốn làm hoàn thiện một bài luận văn vui lòng liên hệ ngay đến làm thuê luận văn thạc sĩ và nhắn tin qua zalo/telegram : 0934.536.149 để được tư vấn báo giá và hỗ trợ nhanh chóng nhất có thể nhé.

1.Cố ý gây thương tích là gì?

Trong lĩnh vực ngôn ngữ, để hiểu cố ý gây thương tích là gì cần hiểu cố ý là gì và gây thương tích là gì. Cố ý là “động từ có ý định làm việc gì và cố thực hiện ý định đó”[1]. Gây thương tích là “việc có dấu vết để lại trên thân thể do bị thương”[2]. Từ đó, có thể hiểu, cố ý gây thương tích là việc một người có ý định và cố thực hiện hành vi để lại dấu vết trên thân thể người khác.

Trong khoa học pháp lý hình sự có nhiều cách định nghĩa khác nhau về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Cách định nghĩa thứ nhất – TS Phạm Văn Beo cho rằng: “Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là hành vi cố ý gây tổn hại cho sức khỏe người khác dưới dạng thương tích hoặc tổn thương khác”[3], cách định nghĩa thứ hai cho rằng: “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là hành vi của một người cố ý làm cho người khác bị thương hoặc tổn hại đến sức khỏe”[4].

Cơ Sở Lý Luận Về Tội Cố Ý Gây Thương Tích Làm Luận Văn từ các khái niệm trên có thể rút ra kết luận, “Cố ý gây thương tích là hành vi cố ý xâm phạm thân thể, gây tổn hại cho sức khỏe người khác dưới dạng thương tích hoặc tổn thương khác. Thương tích được hiểu là tổn hại cho sức khỏe thể hiện qua dấu vết để lại trên cơ thể con người, tổn thương khác được hiểu là tổn hại cho sức khỏe mà không thể hiện thành dấu vết trên cơ thể con người. Hành vi cố ý gây thương tích là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền được tôn trọng và bảo vệ sức khỏe của người khác”.

XEM THÊM :219+ Đề Tài Luận Văn Thạc Sĩ Luật Hình Sự

2. Các yếu tố của tội phạm

2.1. Khách thể của tội phạm

Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội bị tội phạm xâm phạm.[5] Khách thể của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại. Trong tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thì khách thể trực tiếp chính là sức khỏe con người. Bởi vì con người là chủ thể của hầu hết mọi quan hệ xã hội, khi quyền được tôn trọng và bảo vệ về sức khỏe của con người bị xâm phạm nó làm phá vỡ sự ổn định của các quan hệ xã hội. Do vậy, mục tiêu bảo vệ sức khỏe của con người luôn được đặt lên hàng đầu. Cũng vì ý nghĩa đó trong BLHS ngay sau nhóm tội xâm phạm an ninh quốc gia, nhà làm luật đã quy định nhóm tội về xâm phạm nhân thân. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được quy định tại Điều 134 BLHS có quy định hình phạt nghiêm khắc nhất là chung thân. Điều này khẳng định quyền bảo vệ về sức khỏe của con người là thiêng liêng, cao quý và cần được bảo vệ tuyệt đối. Đồng thời cũng thể hiện thái độ của nhà nước với tội phạm này một cách kiên quyết, bất kỳ ai xâm phạm quyền được bảo vệ sức khỏe của con người đều bị trừng trị thích đáng. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác xâm phạm quyền được bảo vệ sức khỏe của con người thông qua sự tác động làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động. Đối tượng tác động của tội phạm này những người đang sống, đang tồn tại với tư cách là thực thể tự nhiên và xã hội nên có quyền được tôn trọng và bảo vệ về tính mạng, sức khỏe.

2.2. Mặt khách quan của tội phạm

Mặt khách quan của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là những biểu hiện của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan, bao gồm: hành vi khách quan của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác; hậu quả nguy hiểm cho xã hội của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác và hậu quả xảy ra trên thực tế. Trong mặt khách quan của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, hành vi khách quan là dấu hiệu cơ bản và quan trọng nhất. Các dấu hiệu khác thuộc mặt khách quan như: hậu quả, mối quan hệ nhân quả, công cụ, phương tiện phạm tội… chỉ có ý nghĩa khi có hành vi khách quan. Hay nói cách khách không thể truy cứu TNHS với người không thực hiện hành vi khách quan. Hành vi khách quan của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là những biểu hiện của con người ra bên ngoài thế giới khách quan dưới hình thức cụ thể, có sự kiểm soát và điều khiển bởi ý chí. Những hành vi tuy được biểu hiện ra bên ngoài thế giới khách quan nhưng không được ý thức kiểm soát hoặc tuy được ý thức kiểm soát nhưng không được ý chí điều khiển thì cũng không phải là hành vi khách quan của tội phạm này. Hành vi khách quan của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được thực hiện thông qua hành động dùng chân tây đấm, đá, dùng dao kiếm đâm chém… Hành động phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là hình thức của hành vi khách quan làm biến đổi tình trạng bình thường đối tượng tác động của tội phạm, xâm phạm đến quyền được bảo vệ về sức khỏe của con người, qua việc chủ thể của tội phạm làm một việc mà pháp luật cấm.

XEM THÊM :110+ Đề Tài Luận Văn Thạc Sĩ Luật Dân Sự

Cơ Sở Lý Luận Về Tội Cố Ý Gây Thương Tích Làm Luận Văn hành vi khách quan của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là những biểu hiện của con người ra ngoài thế giới khách quan có sự kiểm soát của ý thức và điều khiển của ý chí. Đây là điều kiện cần, điều kiện đủ là hành vi đó phải có khả năng gây ra thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác một cách trái pháp luật. Những hành vi này có khả năng gây ra những thương tích nhất định, làm tổn hại đến sức khỏe của con người. Những hành vi này có thể được thực hiện với công cụ, phương tiện phạm tội (đâm, chém, đầu độc…) hoặc không có công cụ, phương tiện phạm tội (đấm, đá) hoặc có thể thông qua súc vật (thả chó cắn, trâu chém, bò đá)… Đây là những hành vi hành động hoặc không hành động. Hậu quả do hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác chính là thiệt hại do hành vi khách quan gây ra cho quan hệ nhân thân, cho quyền được bảo vệ về sức khỏe của con người. Thiệt hại này được thể hiện dưới dạng thiệt hại về thể chất – hậu quả gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Việc xác định có hậu quả xảy ra trên thực tế hay không, tính chất, mức độ của hậu quả xảy ra trên thực tế có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định có đủ yếu tố cấu thành tội phạm hay không, đảm bảo xét xử đúng người đúng tội và có vai trò quan trọng trong việc quyết định hình phạt. Về mức độ thương tích phải chịu TNHS: Tỷ lệ thương tích: Là tỷ lệ mất sức lao động vĩnh viễn dựa trên kết quả của giám định pháp y, nhưng trong trường hợp cần thiết có thể dựa trên kết luận của bác sỹ điều trị khi tiếp nhận bệnh nhân.

Cơ Sở Lý Luận Về Tội Cố Ý Gây Thương Tích Làm Luận Văn
Cơ Sở Lý Luận Về Tội Cố Ý Gây Thương Tích Làm Luận Văn

2.3.Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là người có năng lực TNHS, đạt độ tuổi luật định và đã thực hiện hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Người có đủ năng lực TNHS phải là người không mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo làm mất khả năng nhận thức điều chỉnh hành vi của mình, tức là người đó nhận thức được tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi mà mình sẽ thực hiện, biết được hành vi đó đúng hay sai, có phù hợp với pháp luật và đạo đức hay không. Pháp luật hình sự Việt Nam không trực tiếp quy định người như thế nào là có đủ năng lực TNHS mà chỉ quy định tuổi chịu TNHS và tình trạng không có năng lực TNHS. Có thể hiểu luật hình sự Việt Nam mặc nhiên thừa nhận những người đã đạt độ tuổi chịu TNHS nói chung là có năng lực TNHS, trừ trường hợp mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Theo quy định của Điều 12 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017 thì người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại Điều 134. Theo đó người phạm tội thuộc khoản  3, 4, 5 Điều 134 thì bị truy cứu TNHS.

Người đủ 16 tuổi phải chịu TNHS về mọi trường hợp phạm tội này.

2.4.Mặt chủ quan của tội phạm

Mặt chủ quan của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là hoạt động tâm lý bên trong của người phạm tội bao gồm lỗi, động cơ, mục đích. Lỗi của người phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được thực hiện do cố ý. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình, chắc chắn hoặc có thể gây ra thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của người khác, mong muốn hoặc tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả đó xảy ra. Người phạm tội thực hiện hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác một cách trái pháp luật chỉ bị coi là có lỗi nếu hành vi đó là kết quả của sự tự lựa chọn của chính họ, họ tự ý thức và kiểm soát hành vi của mình, trong khi họ có đủ điều kiện khách quan và chủ quan để lựa chọn và thực hiện xử sự khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội. Tức người thực hiện hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác có thể lựa chọn và thực hiện xử sự khác không gây ra hậu quả thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của người khác, nhưng chủ thể đã lựa chọn, quyết định và thực hiện hành vi gây ra thương tích hoặc tổn hại sức khỏe cho người khác. Như vậy, lỗi của người phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người chỉ đặt ra cho những trường hợp trong đó chủ thể có khả năng xử sự không gây ra thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của người khác, nhưng chủ thể đã không lựa chọn khả năng này. Muốn xác định đúng lỗi của người phạm tội đối với thương tích hoặc tổn hại sức khỏe của nạn nhân là cố ý hay vô ý, thì cần làm sáng tỏ hai vấn đề: 1) người phạm tội có thấy trước hậu quả nguy hiểm không; 2) nếu thấy trước thì họ mong muốn, chấp nhận hay loại trừ khả năng hậu quả xảy ra. Nếu vấn đề thứ nhất được xác định là không thì có thể loại trừ ngay khả năng cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Để xác định người phạm tội có thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội có xảy ra hay không phải xuất phát từ năng lực nhận thức của họ, cũng như những điều kiện nhận thức cụ thể, hoàn cảnh khách quan, những dấu hiệu thuộc mặt khách quan như: tính chất công cụ phạm tội, phương tiện cũng như cách thức sử dụng; tình trạng sức khỏe cũng như khả năng chống đỡ của nạn nhân…

Cơ Sở Lý Luận Về Tội Cố Ý Gây Thương Tích Làm Luận Văn để xác định người phạm tội mong muốn, chấp nhận hay loại trừ hậu quả gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác cần xem xét đánh giá những tình tiết như: sự lựa chọn công cụ, phương tiện phạm tội, cách thức sử dụng; diễn biến tâm lý của người phạm tội trong quá trình thực hiện tội phạm; tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội; động cơ, mục đích phạm tội; vị trí tác động… Trong trường hợp mong muốn hậu quả gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác xảy ra, người phạm tội thường sử dụng các công cụ phạm tội mang tính chất “sát thương” cao như dao, kiếm, mã tấu, côn… Bên cạnh đó người phạm tội còn lựa chọn vị trí tác động, cách thức sử dụng công cụ, phương tiện có khả năng gây ra thương tích hoặc tổn hại sức khỏe lớn cho đối tượng tác động. Ngược lại, nếu chỉ có ý thức chấp nhận hậu quả gây thương tích hoặc tổn hại cho người khác xảy ra, người phạm tội không quan tâm đến công cụ, phương tiện, phương pháp phạm tội, vị trí tác động đến nạn nhân có nguy hiểm, có khả năng gây thương tích hay tổn hại sức khỏe hay không, mà chỉ quan tâm đến việc đạt được mục đích của mình. Cho nên người phạm tội trong trường hợp này có thể dùng bất cứ công cụ, phương tiện, phương pháp phạm tội nào, không phụ thuộc vào tính chất nguy hiểm của nó, đồng thời chấp nhận mọi cách thức sử dụng công cụ phương tiện phạm tội.

Trường hợp người phạm tội có ý thức loại trừ khả năng hậu quả gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác, người phạm tội sẽ lựa chọn công cụ, phương tiện, phương pháp cũng như cách thức sử dụng để làm sao vừa có thể đạt được mục đích lại vừa tránh được ở mức cao nhất hậu quả gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác. Trong số các công cụ, phương tiện, phương pháp phạm tội có khả năng giúp người thực hiện tội phạm đạt được mục đích, người phạm tội thường sử dụng công cụ, phương tiện, phương pháp ít nguy hiểm nhất. Khi sử dụng người phạm tội tác động vào những vị trí ít nguy hiểm trên cơ thể, lực tác động thường nhẹ không hết khả năng. Trong các trường hợp này mục đích của người phạm tội chủ yếu là đe dọa chứ không có ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác.

3. Quy định của pháp luật về tội cố ý gây thương tích theo quy định của BLHS

3.1. Các trường hợp của tội cố ý gây thương tích

Tại Khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định như sau:

“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

  1. a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;
  2. b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;
  3. c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;
  4. d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;

đ) Có tổ chức;

  1. e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
  2. g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;
  3. h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;
  4. i) Có tính chất côn đồ;
  5. k) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.”

Trong đó, để giải thích các quy định trên có thể tham khảo các luật chuyên ngành khác. Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ 2017: “Vũ khí là thiết bị, phương tiện hoặc tổ hợp những phương tiện được chế tạo, sản xuất có khả năng gây sát thương, nguy hại cho tính mạng, sức khỏe của con người, phá hủy kết cấu vật chất, bao gồm: vũ khí quân dụng, súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao và vũ khí khác có tính năng, tác dụng tương tự.

Vật liệu nổ là sản phẩm dưới tác động của xung kích thích ban đầu gây ra phản ứng hóa học nhanh, mạnh, tỏa nhiệt, sinh khí, phát sáng, tạo ra tiếng nổ, bao gồm: (i) Thuốc nổ là hóa chất hoặc hỗn hợp chất được sản xuất, sử dụng nhằm tạo ra phản ứng nổ dưới tác động của xung kích thích; (ii) Phụ kiện nổ là kíp nổ, dây nổ, dây cháy chậm, mồi nổ, vật phẩm chứa thuốc nổ có tác dụng tạo xung kích thích ban đầu làm nổ khối thuốc nổ hoặc thiết bị chuyên dùng có chứa thuốc nổ”.[6]

“Axit nguy hiểm là các axit có khả năng gây tổn thương cho các bộ phận cơ thể người khi có sự tiếp xúc giữa axit này với cơ thể người. Hóa chất nguy hiểm là hóa chất bất kỳ nhưng không phải là axit có khả năng gây tổn hại cho sức khỏe của con người”. [7]

3.2. Mức phạt của Tội cố ý gây thương tích

Mức phạt hình sự thấp nhất với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại tới sức khỏe của người khác là phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Ngoài mức phạt trên, các khung hình phạt tăng nặng khác với Tội cố ý gây thương tích được quy định tại Điều 134 như sau:

“Phạt tù từ 02 năm đến 06 năm khi phạm tội thuộc một trong các trường hợp:

– Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

– Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30%;

– Phạm tội 02 lần trở lên;

– Tái phạm nguy hiểm;

– Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

Phạt tù từ 05 năm đến 10 năm khi phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau:

– Gây thương tích (trừ trường hợp làm biến dạn vùng mặt) hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

– Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

– Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;

– Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

Phạt tù từ 07 năm đến 14 năm khi phạm tội thuộc một trong các trường hợp:

– Làm chết người;

– Gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

– Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

– Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;

– Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

Nặng nhất, người phạm tội có thể bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân khi phạm tội thuộc một trong hai trường hợp:

– Làm chết 02 người trở lên;

– Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này”.

Như vậy, tùy vào tính chất, mức độ nguy hiểm mà người phạm tội cố ý gây thương tích có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm, phạt tù đến 20 năm, tù chung thân.

Ngoài ra, người nào chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm (theo khoản 6 Điều 134).

3.3. Phân biệt tội giết người với tội cố ý gây thương tích

  1. a) Phân biệt tội giết người với tội cố ý gây thương tích trong trường hợp nạn nhân bị chết

“Hai tội này, người phạm tội đều thực hiện hành vi là do cố ý; đều thực hiện hành vi khách quan tương tự như nhau (bắn, đâm, chém, đánh, đấm, đá…) và nạn nhân đều bị chết. Tuy nhiên, đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác, người phạm tội chỉ cố ý làm cho nạn nhân bị thương hoặc gây tổn hại cho sức khỏe, không mong muốn cho nạn nhân bị chết, cũng không bỏ mặc cho nạn nhân chết; nạn nhân bị chết là ngoài ý muốn của người phạm tội.

Cơ Sở Lý Luận Về Tội Cố Ý Gây Thương Tích Làm Luận Văn đối với tội giết người, thì người phạm tội cố ý tước đoạt tính mạng của nạn nhân. Nếu không phải là do cố ý trực tiếp (cố ý có dự mưu, cố ý xác định) thì cũng là cố ý gián tiếp (cố ý đột xuất, hoặc cố ý không xác định), tức là không cần quan tâm đến hậu quả, muốn ra sao thì ra, bỏ mặc cho nạn nhân chết cũng được, không chết cũng mặc.

Hành vi tấn công của người phạm tội đối với tội giết người bao giờ cũng quyết liệt hơn, cường độ tấn công mạnh hơn, nhằm vào những nơi xung yếu của cơ thể như: vùng đầu (sọ não, gáy), ngực, ổ bụng… Còn đối với tội cố ý gây thương tích người phạm tội tấn công nạn nhân không quyết liệt, mà nếu có quyết liệt thì cũng chỉ tấn công vào những nơi khó gây ra cái chết cho nạn nhân như: chân, tay, mông, nếu có tấn công vào nơi xung yếu của cơ thể của nạn nhân thì cũng chỉ tấn công vào nơi đã định như mắt, mũi, tai, miệng.

Thực tiễn, nhiều trường hợp người phạm tội chỉ khai không muốn làm nạn nhân chết. Do đó phải kết hợp với ý thức chủ quan của họ để xác định là giết người hay cố ý gây thương tích, đồng thời phải căn cứ vào biên bản giám định pháp y về cơ chế hình thành vết thương, đặc biệt là nguyên nhân gây ra cái chết cho nạn nhân.

Thực tế hiện nay việc phân biệt tội giết người với tội cố ý gây thương tích trong trường hợp nạn nhân chết chủ yếu đối với những vụ đánh nhau giữa hai người hoặc một số người dẫn đến có người chết. Trước đây, cũng có quan điểm cho rằng, nếu đánh nhau nhưng nạn nhân không chết ngay, mà phải 4 đến 5 ngày sau mới chết hoặc vài tháng sau nạn nhân mới chết thì đó là cố ý gây thương tích. Quan điểm này không chính xác, vì trên thực tế nhiều trường hợp nạn nhân không chết ngay nhưng do người phạm tội có ý định tước đoạt tính mạng của nạn nhân nên đã đánh vào chỗ hiểm, một thời gian sau nạn nhân mới chết.

Vì vậy, để phân biệt tội giết người hay chỉ cố ý gây thương tích thì phải tổng hợp tất cả các dấu hiệu của vụ án, mà xác định ý thức chủ quan của người phạm tội.

Ví dụ 1: Viện kiểm sát nhân dân TP. Hồ Chí Minh truy tố Nguyễn Anh T về tội giết người theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự (phạm tội có tính chất côn đồ) nhưng Tòa án nhân dân Tp Hồ Chí Minh chuyển tội danh đối với T sang tội cố ý gây thương tích và phạt T 5 năm tù. Việc Tòa án chuyển tội danh từ giết người sang cố ý gây thương tích đối với T là không đúng. Bởi lẽ, T đã có hành vi dùng cây đánh nhiều cái vào đầu ông L. Khi dùng cây đánh nhiều cái vào đầu (nơi xung yếu của cơ thể), T phải nhận thức được rằng có thể gây ra cái chết cho nạn nhân nhưng vẫn thực hiện, bỏ mặc cho hậu quả xảy ra, muốn ra sao thì ra (cố ý gián tiếp).

Thực tế nạn nhân đã bị chết là do chấn thương sọ não. Đây là nguyên nhân chủ yếu gây ra cái chết cho nạn nhân nên T phải chịu trách nhiệm về cái chết của ông L. Các nguyên nhân khác như sặc nước, có sử dụng rượu theo giám định chỉ là thứ yếu, không quyết định cái chết của nạn nhân. Tuy nhiên, hành vi của T không phải là phạm tội có tính chất côn đồ. Bởi lẽ phạm tội có tính chất côn đồ là trường hợp người phạm tội rõ ràng đã coi thường những quy tắc trong cuộc sống, có hành vi ngang ngược, càn quấy, bất chấp sự can ngăn của người khác, chỉ vì những nguyên cớ nhỏ nhặt cũng cố tình gây sự để phạm tội hoặc vô cớ phạm tội. Ở đây, việc T đuổi đánh ông L không phải là vô cớ mà vì ông L đã gây sự, đập phá chòi, đẩy ngã xe của T, chửi mắng, hăm dọa, thách thức T, dùng cây đánh T… Vì vậy, hành vi của T thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật hình sự.

Ví dụ 2: Chu Ngọc L là cán bộ công an phường Thượng Cát, quận Bắc Từ Liêm đi xe máy đến trụ sở công an phường Đức Thắng gặp thượng úy Nguyễn Xuân B là cán bộ công an phường Đức Thắng quận Bắc Từ Liêm. Đến nơi, thấy B đang ngồi ăn ở chiếc ghế cạnh bàn uống nước giữa phòng ngủ, L tiến về phía B, đứng trước bàn uống nước cách B 1m nói: Đưa tiền để em đưa nó, hơn 5g nó gọi em rồi. Thấy vậy, B phẩy tay nói Đi ra. L tiếp tục nói Đưa tiền cho em không? B vẫn nói Đi ra. Ngay lập tức, L dùng chân phải đang đi giầy đá mạnh vào cổ bên trái khiến B ngửa cổ ra sau tựa vào ghế. Thấy xảy ra va chạm, một số cán bộ công an phường Đức Thắng chạy đến can ngăn. Lúc này, mặt anh B đã tím tái, người lịm đi, gọi không phản ứng nên được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Nam Thăng Long và sau đó được chuyển lên Bệnh viện Bạch Mai. Đến 20g30p cùng ngày, Nguyễn Xuân B tử vong.

Tại Bản kết luận pháp y của Viện Pháp y quốc gia xác định, nguyên nhân chết của B là do chảy máu não, phù não tụt hạnh nhân tiểu não do chấn thương sọ não kín. Cơ chế hình thành thương tích: Thương tích vùng đầu do vật tày tác động gây ra….

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Hà Nội quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Chu Ngọc L về tội Cố ý gây thương tích theo Điều 134 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội cũng truy tố Chu Ngọc L về tội Cố ý gây thương tích.

Tòa án nhân dân Tp Hà Nội trả hồ sơ để điều tra bổ sung làm rõ động cơ, mục đích phạm tội của bị cáo L. Tuy nhiên, Viện kiểm sát nhân dân Tp Hà Nội vẫn giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo Chu Ngọc L về tội Cố ý gây thương tích.

Tòa án nhân dân TP. Hà Nội mở phiên tòa nhưng lại một lần nữa quyết định trả hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội để điều tra bổ sung.

Với các tình tiết của vụ án như trên thì rõ ràng hành vi của L là hành vi phạm tội giết người, mặc dù có thể L không mong muốn cho nạn nhân chết, nhưng chỉ vì nóng giận mà đá vào vùng xung yếu của cơ thể nạn nhân, buộc L phải nhận thức được rằng có thể gây nguy hiểm đến tính mạng cho nạn nhân nhưng L vẫn hành động với ý thức bỏ mặc, muốn ra sao thì ra.

  1. b) Phân biệt tội giết người với tội cố ý gây thương tích trong trường hợp nạn nhân không bị chết

Hai tội này, người phạm tội đều thực hiện hành vi là do cố ý; đều thực hiện hành vi (hành động) tương tự như nhau (bắn, đâm, chém, đánh, đấm, đá…); nhưng nạn nhân đều không bị chết.

Dấu hiệu để phân biệt giữa hai tội này chủ yếu căn cứ vào mục đích của người phạm tội. Đối với tội giết người, người phạm tội thực hiện hành vi của mình dứt khoát phải mong muốn cho nạn nhân chết, còn nạn nhân không chết là ngoài ý muốn của người phạm tội, còn đối với tội cố ý gây thương tích thì người phạm tội chỉ có ý định gây thương tích cho nạn nhân chứ không mong muốn hoặc bỏ mặc cho nạn nhân chết.

Ví dụ: Ở quận Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh, trên đường đi tìm đối thủ trả thù, P, D, Đ và H đã xông vào đánh hai người đi xe máy trên đường theo kiểu đánh “hội đồng” làm một người bị chấn thương sọ não, tỉ lệ thương tật 46% vĩnh viễn, trong đó Đ là người dùng cây đánh vào đầu nạn nhân. Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh truy tố các bị cáo về tội cố ý gây thương tích, nhưng Tòa án nhân dân quận cho rằng, việc Đ dùng cây đánh thẳng vào đầu anh L là giết người chứ không phải cố ý gây thương tích nên quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để truy tố Đ về tội giết người. Tuy nhiên, sau đó Viện kiểm sát vẫn truy tố Đ về tội cố ý gây thương tích và Tòa án nhân dân quận đã kết án Đ về tội cố ý gây thương tích.

Trong trường hợp này, tuy Đ có hành vi dùng gậy đánh vào đầu nạn nhân nhưng việc đánh này là không xác định với ý thức muốn ra sao thì ra, nạn nhân không bị chết nên cũng chỉ coi hành vi của Đ là hành vi cố ý gây thương tích. Vì về lý luận cũng như thực tiễn xét xử, nếu không mong muốn cho nạn nhân chết, thì hậu quả đến đâu xử đến đó.

Đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, Bộ luật Hình sự đã căn cứ vào tỷ lệ tổn thương cơ thể của nạn nhân là dấu hiệu định tội, nên đối với tội phạm này chỉ có giai đoạn tội phạm đã hoàn thành, chứ không có giai đoạn phạm tội chưa đạt. Đây cũng là dấu hiệu để phân biệt giữa tội giết người chưa đạt với tội cố ý gây thương tích.

Trường hợp Công an bắt nóng một số băng nhóm sử dụng hung khí nguy hiểm như: mã tấu, sung hơi, súng quân dụng, côn gỗ, dùi cui điện… chuẩn bị đi đánh nhau. Nếu không chứng minh được họ phạm tội giết người thì cũng không thể truy cứu họ về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được.

Để phân biệt giữa hai tội này, còn phải căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi mà người phạm tội thực hiện.

Đối với tội giết người, hành vi tấn công thường quyết liệt hơn, cường độ tấn công rất mạnh hơn, chủ yếu nhằm vào những nơi xung yếu của cơ thể nạn nhân như: vùng đầu (sọ não, gáy), ngực, ổ bụng… nhưng vì khách quan nên người phạm tội không thực hiện được hành vi của mình hoặc bị cản trở nên không thực hiện được việc tước đoạt  tính mạng của nạn nhân. Ví dụ: A dùng mã tấu chém vào đầu nạn nhân nhưng vì nạn nhân giơ tay lên đỡ nên chỉ bị thương vào bàn tay. Còn đối với tội cố ý gây thương tích hành vi tấn công nạn nhân ít quyết liệt hơn, nếu có quyết liệt thì cũng chỉ nhằm vào những nơi khó gây ra cái chết cho nạn nhân như: chân, tay, mông, đùi… nếu có tấn công vào nơi xung yếu của cơ thể của nạn nhân thì cũng chỉ tấn công vào nơi đã định (mắt, mũi, tai, miệng…) như: đâm vào mắt cho nạn nhân bị mù, cắt tai, chặt tay, chặt chân của nạn nhân.

Việc phân biệt hành vi giết người hay cố ý gây thương tích trong nhiều trường hợp rất phức tạp, nếu không nói là rất khó. Vì nạn nhân không bị chết nên không bao giờ người phạm tội thừa nhận rằng mình có ý định tước đoạt tính mạng của nạn nhân. Thực tế cũng mỗi nơi áp dụng một kiểu, ngay trong một cơ quan tiến hành tố tụng thì người này có quan điểm giết người, còn người khác thì nói chỉ cố ý gây thương tích”.[8]

Cơ Sở Lý Luận Về Tội Cố Ý Gây Thương Tích Làm Luận Văn là toàn bộ nguồn tài liệu mà mình đã tiến hành triển khai đến cho các bạn cùng xem và tham khảo. Nếu như nguồn tài liệu này không đủ để đáp ứng nhu cầu của bạn thì ngay bây giờ đây hãy liên hệ ngay đến dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ của chúng tôi qua zalo/telegram : 0934.536.149 để được tư vấn báo giá và hỗ trợ nhanh nhất có thể nhé.

DOWNLOAD MIỄN PHÍ

[1] http://tratu.soha.vn/dict/vn_vn/C%E1%BB%91_%C3%BD

[2] http://tratu.soha.vn/dict/vn_vn/Th%C6%B0%C6%A1ng_t%C3%ADch

[3] Phạm Văn Beo (2009), Luật hình sự Việt Nam – Quyển 1 (Phần chung), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

[4] Đinh Văn Quế (2002), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự (Phần các tội phạm), tập 1 Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người, (Bình luận chuyên sâu), Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh, tr.137

[5] Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam, Phần chung /Trường Đại học Luật Hà Nội ; Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên; tr.77

[6] Xem thêm Điều 3 Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ 2017

[7] Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam.Phần các tội phạm,Quyển 1 /Trường Đại học Luật Hà Nội ; Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên; tr.101